Cây Gừng-Thảo Dược Dân Gian Trị Bách Bệnh Hữu Hiệu

Cây gừng là loại cây gia vị quen thuộc với chúng ta, phần thân rễ (củ) là một vị thuốc dân gian

được sử dụng kết hợp nhiều trong các bài thuốc chữa bệnh. Ngay sau đây, Thiên thanh thảo

xin cung cấp thông tin và công dụng của cây trong chữa bệnh đến bạn đọc qua bài viết này.

Cây Gừng – Loại cây gia vị quen thuộc chữa bách bệnh

Cây Gừng – Loại cây gia vị quen thuộc chữa bách bệnh

Cây gừng Còn có tên gọi khác là sinh khương, can khương, bào khương. Tên tiếng Anh là Zingiber
(Anh), tiếng Pháp là Gingembre, Amome des Indes. Tên khoa học là Zingiber officinale
Rose, thuộc họ Gừng (Zingibera

1,Đặc điểm thực vật và phân bố

Cây Gừng là một loài thực vật hay được dùng làm gia vị, thuốc. Nó thuộc cây thân thảo, cao
khoảng 1m. Thân rễ nạc, phát triển thành củ, phân nhánh xòe ra giống hình bàn tay, màu
vàng nhạt, có mùi thơm cay. Lá mọc so le, hình mác, có gân giữa hơi trắng nhạt, không
có cuống, khi vò lá có mù thơm.
Trụ hoa dài khoảng 20cm, mang cụm hoa hình bông, mỗi cụm có nhiều hoa mọc sít nhau.
Hoa màu vàng xanh, mép cánh hoa màu tím, nhị cũng màu tím. Đài hoa dài 1cm, có 3
răng ngắn, 3 cành hoa dài 2cm. Quả mọng.

Phần làm Dược liệu của cây gừng:

Là phần củ gừng không có hình dạng nhất định, phân nhánh, dài 3-7cm, dày
chừng 1cm. Mặt ngoài có màu vàng nhạt hoặc màu trắng tro, có đốt tròn và vết nhăn
dọc. Vết bẻ có màu trắng tro hoặc ngả vàng, có bột, vân tròn rõ. Mặt cắt ngang có sợi
thưa và nhiều chấm sáng.

Cây gừng đặc điểm Phân bố và thu hái cây gừng

Cây được trồng phổ biến ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ Đông Á đến các nước
Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, trong đó Nhật Bản là nước trồng gừng nhiều nhất thế
giới và được xem như một loại cây gia vị. Ở Việt Nam, cây được trồng khắp cả nước.

Trồng trọt và thu hoạch Cây gừng

Gừng được trồng bằng các nhánh của thân rễ có mang mầm. Trồng và mùa xuân, mùa thu cây sẽ ra hoa và thu hoạch khi cây bắt đầu lụi. Các nước trồng và xuất khẩu chính: Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Phi;ipin, Thái Lan, Nigeria.

Gừng được trồng bằng các nhánh của thân rễ có mang mầm.

Gừng được trồng bằng các nhánh của thân rễ có mang mầm.

Bộ phận dùng cây gừng:

Củ Gừng tươi– Gừng khô– Gừng đã chế biến– Tinh dầu gừng – Oleum Zingiberis– Nhựa dầu gừng.

* Gừng tươi: Bao gồm cả gừng non và gừng già. Gừng non được thu hoạch khi củ còn non, ít xơ và ít cay. Thường được dùng để chế biến các sản phẩm. Gừng già thường dùng để chế biến gừng khô, tinh dầu gừng và nhựa dầu gừng.

* Gừng khô: Được chế biến từ củ gừng già có thể để cả vỏ rồi phơi khô gọi là gừng xám hoặc bỏ vỏ rồi phơi khô gọi là gừng trắng.

* Loại Gừng đã được chế biến: Thường được chế biến từ củ gừng non, bao gồm các sản phẩm: Gừng chế biến ngâm trong nước muối, chế biến ngâm trong sirô, chè gừng… Trung Quốc và Australia là hai nước xuất khẩu nhiều nhất mặt hàng này.

* Tinh dầu gừng: Tên thương phẩm là Ginger oil được sản xuất từ gừng tươi bằng phương pháp cất kéo hơi nước, với hiệu suất từ 1,0 – 2,7%. Vỏ chứa nhiều tinh dầu hơn (4 – 5%); vì vậy có thể kết hợp khi chế biến gừng khô để sản xuất tinh dầu.

* Nhựa dầu gừng: Được chế biến từ bột gừng khô bằng cách chiết với dung môi hữu cơ với hiệu suất 4,2 – 6,5%.

Hàng năm toàn thế giới sản xuất khoảng 30 tấn tinh dầu gừng và 150 – 300 tấn nhựa dầu gừng. Các nước sản xuất tinh dầu và nhựa dầu chính: Ấn Độ và Trung Quốc. Các nước tiêu thu chính: USA, Canada, Anh, Đức.

Bộ phận dùng cây gừng

Bộ phận dùng cây gừng

Thành phần hoá học cây gừng

Gừng chứa tinh dầu (2-3%), nhựa dầu (4,2 – 6,5%), chất béo (3%) và chất cay: Zingerol, zingeron, shagaol v.v…

Tinh dầu gừng là chất lỏng không màu hoặc màu vàng nhạt, d30: 0,868 – 0,880, nD30: 1,4890 – 1,4894, D30: – 280, đến – 450.

Tinh dầu gừng có mùi đặc trưng của gừng nhưng không chứa các chất cay. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là hợp chất hydrocarbon sesquiterpenic: -zingiberen (35,6%, ar-curcumen (17,7%), – farnesen (9,8%); ngoài ra còn có chứa một lượng nhỏ các hợp chất alcol monoterpenic: geraniol (1,4%), linalol (1,3%), borneol (1,4%) v.v…

Nhựa dầu gừng có chứa 20 – 25% tinh dầu và 20 – 30% các chất cay. Các chất cay chính có công thức:

Công dụng cây gừng

– Gừng tươi được sử dụng như một gia vị trong bữa ăn hàng ngày. Dùng để chế biến các sản phẩm gừng mặn, mứt gừng và chè gừng.

– Gừng khô dùng để chế biến gia vị (bột Cary). Dùng làm chất thơm trong kỹ nghệ thực phẩm và trong kỹ nghệ pha chế đồ uống.

Công dụng cây gừng

Công dụng cây gừng

– Tinh dầu gừng làm chất thơm trong kỹ nghệ thực phẩm và kỹ nghệ pha chế đồ uống, thường cho vào nhựa dầu gừng để giảm độ cay của nhựa dầu.

– Nhựa dầu được dùng làm chất thơm và cay trong kỹ nghệ thực phẩm, pha chế đồ uống.

Trong Y học cổ truyền gừng tươi được gọi là sinh khương là vị thuốc tân ôn giải biểu, tác dụng vào kinh phế, vị, tỳ, có tác dụng phát tán phong hàn, chữa cảm mạo phong hàn, làm ấm dạ dày trong trường hợp bụng đầy trướng, không tiêu, khí huyết ngưng trệ, chân tay lạnh. Ngoài ra còn có tác dụng hoá đờm, chỉ ho, lợi niệu, giải độc, khử khuẩn.

Gừng khô được gọi là can khương, vị cay, tính ấm, tác dụng vào kinh tâm, phế, tỳ, vị, có tác dụng ôn trung hồi dương, ôn trung chỉ tả, chỉ nôn, trong trường hợp tỳ vị hư hàn, chân tay lạnh, đau bụng đi ngoài. Can khương tồn tính có tác dụng ấm vị, chỉ huyết trong các trường hợp xuất huyết do hư hàn.

Công dụng cây gừng

Công dụng cây gừng

Cây gừng còn được làm cảnh

Ngày nay, ngoài công dụng làm gia vị, làm thuốc cây gừng còn được trồng chậu làm đẹp cho vườn nhà. Cây vừa có ý nghĩa cảnh quan, lại mang nhiều công dụng thiết thực với đời sống con người. Chính vì vậy, trong mỗi gia đình nên trồng gừng tại nhà để dùng mỗi khi cần đến.

Add your comment